
Từ đồng ruộng đến bàn ăn
February 19, 2022
Bền vững không phải “chuyện lớn”
February 20, 2022Câu chuyện an ninh lương thực
Tác giả: Quyên Võ
Minh hoạ: Bùi Ngân
Có một vài khái niệm vĩ mô mà ít nhiều tụi mình đã từng nghe qua, dù chẳng lọt vào tai: biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, nông nghiệp đô thị… Cũng không trách được, thời đi học, mình đâu có được không gian để bàn về những điều này. Nhưng theo thời gian, mình nhận ra bản thân đang len lỏi giữa những “nhà hoạt động” tích cực (thật ra là tụi bạn bè mình chứ đâu), móc gan móc ruột “tuyên truyền” về bền vững. Dù đa phần bị bạn bè làm lơ, tụi nó vẫn không từ bỏ. Lâu dần, mình cũng tự hỏi, mấy cái đó là cái gì ta?
Trong cơn đại dịch, khi Sài Gòn hoảng loạn vì… hết rau, khát thịt, những kệ hàng siêu thị bị vét sạch, mạng xã hội đầy hoang mang với nỗi lo “chết đói”, câu chuyện an ninh lương thực (food security) như một cái kim trong bị, đến ngày lòi ra.
Có lẽ nỗi lo về an ninh lương thực xưa nay khá xa vời với một nước có bề dày “kinh tế lúa nước” như Việt Nam. Nhìn quanh đâu đâu cũng thấy xum xuê cây trái, ruộng lúa, nuôi trồng, thì sợ gì chứ chẳng sợ thiếu ăn! Vậy mà sau ba bốn đợt dịch, khi mà lệnh phong toả ngày càng gắt gao, rõ ràng bức tranh này không sáng sủa như chúng mình hằng nghĩ.
Theo Tổ chức Lương nông của Liên hiệp quốc (FAO), câu hỏi về an ninh lương thực sẽ được trả lời qua bốn yếu tố:
- Có lương thực hay không? Ví dụ, có đủ số lượng cho tất cả mọi người không?
- Có tiếp cận được hay không? Ví dụ, quá đắt đỏ thì cũng không tiếp cận được đối với người thu nhập thấp.
- Có sử dụng được hay không? Ví dụ, thực phẩm đó có an toàn không, có nước sạch để nấu thực phẩm không?
- Và có ổn định không, hay lúc có lúc không?
Thực tế từ tình cảnh vừa rồi của Sài Gòn, khi Covid-19 làm đình trệ hoạt động của hai chợ đầu mối lớn: chợ nông sản Thủ Đức và chợ đầu mối Bình Điền, nguồn cung bắt đầu giảm mạnh. Liền sau đó, khi các cửa kiểm soát ra vào thành phố bị nghẽn, Sài Gòn đối mặt với tình trạng thiếu thực phẩm. Nguồn dự trữ dù trước đó đã được bơm gấp 3, 4 lần vẫn không đủ trước cơn hoảng loạn của nhiều người. Đại dịch đã đặt mỗi gia đình đứng trước bài toán “làm sao nuôi ăn” trong 15 ngày. Chỉ 15 ngày, chỉ 4-5 người trong gia đình, chúng ta đã tự mình cảm nhận được những áp lực, trải nghiệm cách một hệ thống vận hành để một bó rau, miếng thịt đến được bàn ăn. Quá trình chuyên biệt hoá nói chung và chuyên biệt hoá nói riêng trong ngành nông nghiệp, dù ưu tiên giải quyết vấn đề trước mắt, giúp tăng năng suất, nhưng đã tước đi sự linh hoạt của con người, của hệ thống. Khi đối mặt với sự thay đổi, ta ít có khả năng chống chọi.
Ở một góc độ bao quát hơn, trong ngữ cảnh không có dịch bệnh, Việt Nam có phải thực sự có một nền nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực? Có lẽ chúng ta sẽ phải hồ nghi bởi lẽ chưa chắc ta đã thoả mãn được cả bốn yếu tố đã được đề ra. Có thể lương thực chúng ta sản xuất đủ đấy, và người dân dù ở mức thu nhập nào cũng có thể tiếp cận được đấy, nhưng liệu thực phẩm khi đến được tay ta có thực sự “sạch”, đặc biệt là đối với thực phẩm giá rẻ cho người thu nhập thấp? Như chúng mình đã đề cập một cách cơ bản ở bài viết Rau thế nào mới là sạch và an toàn?, thực sự không tồn tại một định nghĩa duy nhất về “sạch” và “an toàn”, huống hồ việc kiểm tra và đảm bảo sự sạch và an toàn đó. Đã không ít lần báo chí truyền thông đã đưa tin về những thực hành nông nghiệp “bẩn”, không đạt chất lượng. Không phải khi không mà những người nội trợ trong gia đình vẫn luôn canh cánh một nỗi lo, một nỗi sợ hãi mơ hồ về việc thực phẩm bây giờ không an tâm như ngày trước.
Mở rộng bối cảnh hơn một chút nữa, một câu hỏi đã và đang được đặt ra trên nhiều diễn đàn quốc tế: làm sao để nuôi ăn cả thế giới? Hay một phiên bản câu hỏi khác của cùng một vấn đề: tại sao nhân loại có đủ tài nguyên, công nghệ, và nguồn lực để sản xuất thực phẩm nuôi sống được tất cả mọi người nhưng, đau lòng thay, vẫn tồn tại nạn đói và trẻ em đâu đó vẫn thiếu dinh dưỡng?
Để mình kể cho bạn nghe một câu chuyện về sự gồ ghề của thực tế nhé. Ở những quốc gia giàu có, thời gian trở lại đây xuất hiện phong trào “mót rác” (dumpster diving). Nó hình thành từ sự tức giận của người dân đối với sự bất bình đẳng trong vấn đề lương thực (food inequality). Những công ty thực phẩm hàng ngày thải ra hàng triệu tấn thực phẩm vẫn còn có thể sử dụng được, nó chỉ không được đẹp và tươi như yêu cầu của người tiêu dùng. Những thực phẩm thừa này sau đó được khoá lại trong các container rác, chờ được đem ra bãi rác. Vậy là các nhà hoạt động môi trường phát động phong trào mót rác để thu lượm những thực phẩm còn dùng được và tặng cho các tổ chức từ thiện, hỗ trợ bữa ăn dinh dưỡng cho người thu nhập thấp hoặc người vô gia cư. Tuy nhiên, phong trào này lại gặp phải sự phản đối của chính quyền bởi sự tồn tại của các quy định ngặt nghèo về sở hữu tư cũng như an toàn thực phẩm. Kết cục, đã có những người mót rác bị bắt và gán tội trộm cắp, trong khi nguồn cơn của vấn đề – sự bất bình đẳng trong lương thực – lại không được đả động tới.
Trở lại câu chuyện Việt Nam, thực sự mình vẫn thầm cảm thấy may mắn khi được lớn lên trong một môi trường dung chứa sự trân trọng thực phẩm, cho dù đôi khi nó có dáng dấp của sự hù doạ “ăn để thừa cơm sau này sẽ chết đói”. Sự hù doạ cần được thay thế bằng việc cung cấp kiến thức và thông tin, nhưng ẩn trong đó là sự biết ơn bàn tay của con người. Biết bao nhiêu mồ hôi, công sức, hạt gạo mới đến được bàn ăn.
Tài hèn sức mọn, cá nhân mình không thể đưa ra giải pháp cho những vấn đề mang tính hệ thống. Với bài viết này, mình chỉ hy vọng tạo ra không gian để cộng đồng có thể cùng nhau tư duy để thay đổi. Câu chuyện an ninh lương thực không phải chỉ là vấn đề của các chuyên gia hay những người làm chính sách, nó tác động, ảnh hưởng đến từng cá nhân trong xã hội. Chúng ta hãy ngừng chờ đợi mà hãy cùng nhau chia sẻ, trao đổi, và tiến gần hơn đến những giải pháp các bạn nhé!




